Cội nguồn dòng họ
Vị tiên tổ khai sinh dòng họ Phan Mạc là Triệu tổ Ngũ Phương Mạc Phúc Thanh, con vua Hồng Ninh (Mục tông Hồng Ninh hoàng đế Mạc Mậu Hợp). Ngài thị đậu Hoàng giáp dưới triều Lê Thần Tông. Sau khi triều Mạc thất thế, ngài chuyển vào Nghệ An lấy tên là Ngũ Phương Địa Sư và mở trường dạy học tại xã Quan Triều (nay là xã Xuân Thành, huyện Yên Thành; sau khi sáp nhập thuộc xã Quan Thành). Đây được xem là trường dạy chữ Hán đầu tiên tại huyện Yên Thành, học trò theo học rất đông, có nhiều người đỗ đạt cao, thành danh trong khoa bảng. Ngài được vua ban sắc Thị học truyền đạo sư biểu tư văn.
Thủy tổ của chi họ chúng ta là Ngài Huyền Nhai (Thủy tổ Huyền Nhai). Ngài là con trai thứ năm của Đức Ngũ Phương với phu nhân họ Phan ở Hạ Thành (tức xã Hoa Thành ngày nay và là xã Yên Thành sau sáp nhập), đồng thời là học trò của thân phụ mình. Thủy tổ Huyền Nhai là bậc danh nhân khai khoa của đất Tràng Thành, nổi tiếng thông minh, đức độ. Dưới triều Lê, Ngài thi Hương đậu Giải nguyên. Đến triều Lê Trung Hưng, Ngài đậu Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Năm Vĩnh Thọ 1648, Ngài được bổ nhiệm làm Tri phủ Quỳ Châu, Nghệ An. Do có công mở mang kinh tế, văn hoá miền núi và giữ yên biên giới nên Ngài được phong tước Triều liệt Đại phu Phong quang bá. Ngài từ trần ngày 16 tháng 10 âm lịch. Sau khi Ngài qua đời, xã thôn đã rước Ngài về thờ tại Đỉnh sở. Niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903), Ngài được phong làm Phúc thần. Trong nhà thờ họ có một đôi câu đối nói về nguồn gốc dòng họ:
Kinh Bắc bằng tiên ấm
Thành Đông dụ hậu trang
Nghĩa là:
Nhờ phúc ấm tổ tiên ở Kinh Bắc
Con cháu ở Thành Đông về sau no đủ
Đức Huyền Nhai có hai người con trai là Huyền Lam và Huyền Mặc. Ngài Huyền Lam nổi tiếng là thần đồng, 12 tuổi đậu Quốc tử giám giám sinh, đến năm 14 tuổi đậu Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và được triều đình trao chức Trực giảng Đại học sĩ Viện Hàn lâm, tước hiệu Ân Quang Hầu. Tiếc thay Ngài Huyền Lam tuổi nhỏ tài cao nhưng mất sớm nên chưa có con nối dõi. Em trai là Huyền Mặc lên thay anh kế vị. Sau khi ngài qua đời, đến năm Thành Thái thứ 15, Ngài được vua sắc phong làm Thành Hoàng và được rước thờ ở Đỉnh sở.
Nhà thờ chi họ được xây dựng từ thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng 1786. Từ năm 1978 - 1983 theo chủ trương mới Nhà thờ hai chi lớn Phan Xuân và Phan Đăng sáp nhập vào nhà thờ Đại tôn thành bốn toà: Thượng điện, Trung điện, Hạ điện và Bái đường. Tháng 5/2011, Chi họ xây dựng thêm nhà truyền thống kiêm bái đường, nâng Nhà thờ họ lên thành năm toà uy nghiêm, bề thế. Trong cuộc kháng chiến cứu quốc, Nhà thờ họ là nơi che chở các cuộc hội họp của nhiều tổ chức cách mạng. Năm 1997, Nhà thờ họ Phan Mạc được Nhà nước cấp bằng “Di tích lịch sử cấp Quốc gia”. Nhà thờ họ đã nhiều lần đón tiếp các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước về thăm.
Vốn nổi tiếng là dòng họ khoa bảng, hiếu học, trong thời phong kiến, chi họ có nhiều vị đỗ đạt cao. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhiều con cháu của chi họ đã tham gia hoạt động cách mạng, trong đó tiêu biểu là nhà cách mạng Phan Đăng Lưu - một tri thức cách mạng tiền bối nổi tiếng, là Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và nhiều cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ cao cấp. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chi họ chúng ta đã có nhiều con cháu tham gia hoạt động cách mạng, tham gia chiến đấu góp phần giành thắng lợi chung của dân tộc (trong đó có 34 liệt sĩ, 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng và nhiều cán bộ trung cao cấp khác).
Đến nay, toàn chi họ có hàng trăm con cháu có trình độ đại học trở lên, trong đó có hai giáo sư, tiến sĩ khoa học, hàng chục vị tiến sĩ và thạc sĩ. Con cháu trong họ đã phát triển đến đời thứ 20 với hàng trăm hộ và hơn 1800 đinh.
Lịch sử sang trang, vương triều Mạc được chiêu tuyết và về đúng vị trí trang trọng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, đó là “500 năm trở lại ban đầu, 13 đời sau chung về một họ”. Con cháu dòng dõi họ Phan Mạc ở Hoa Thành luôn tôn kính và tự hào về cội nguồn và dòng dõi tổ tiên, quyết đem sức lực và trí tuệ xây dựng non sông đất nước thái bình thịnh vượng, xứng đáng với liệt tổ liệt tông, xứng đáng là hậu duệ của một vương triều quan trọng trong lịch sử Việt Nam.
(Theo lời văn trên bia đá cung tiến bởi con cháu Cụ Phan Đăng Thuần tại Nhà thờ họ Phan Mạc, xóm Phan Đăng Lưu, Yên Thành, Nghệ An)